Nhiều người thấy doanh nghiệp giữ lại 10% tiền công, tiền thù lao trước khi thanh toán và mặc định cho rằng cứ có thu nhập cao là phải nộp thuế TNCN 10%. Cách hiểu này chưa chính xác. Khấu trừ 10% phụ thuộc vào loại thu nhập, tình trạng cư trú, loại hợp đồng và mức tiền của từng lần chi trả, chứ không chỉ nhìn vào tổng số tiền cá nhân nhận được.
Từ năm 2026, quy định về khấu trừ thuế TNCN có thay đổi đáng chú ý, đặc biệt là ngưỡng áp dụng đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 03 tháng được nâng lên 5 triệu đồng/lần. Vậy cụ thể khấu trừ thuế 10% trên thu nhập nào, tính trên số tiền trước hay sau giảm trừ và trường hợp nào có thể tạm thời chưa bị khấu trừ? HC247 làm rõ ngay dưới đây.
[GIẢI ĐÁP] Khấu trừ thuế 10% trên thu nhập nào?
Đối với nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công, theo Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tổ chức hoặc cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản tiền chi khác cho cá nhân cư trú sẽ phải khấu trừ 10% khi đồng thời đáp ứng hai điều kiện.
Thứ nhất, người nhận không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng. Quy định này cũng bao gồm trường hợp doanh nghiệp trả tiền lương hoặc khoản thu nhập khác cho người lao động sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt.
Thứ hai, mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên.
Khi đáp ứng các điều kiện trên, đơn vị trả thu nhập phải khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả tiền cho cá nhân. Đây là điểm mới đáng chú ý so với quy định trước đây, khi ngưỡng khấu trừ phổ biến là 2 triệu đồng/lần.
Ví dụ, doanh nghiệp thuê một cộng tác viên thực hiện công việc trong 02 tháng, mỗi lần thanh toán 8 triệu đồng. Nếu cá nhân thuộc diện cư trú và không đủ điều kiện làm cam kết tạm chưa khấu trừ, doanh nghiệp sẽ khấu trừ: 8.000.000 đồng × 10% = 800.000 đồng.
Số tiền thực tế cá nhân nhận là 7,2 triệu đồng, còn 800.000 đồng được doanh nghiệp khấu trừ và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.

Ngưỡng 5 triệu đồng được tính theo tháng hay từng lần trả?
Đây là chi tiết kế toán rất dễ áp dụng sai. Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định “mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên”, nghĩa là mốc 5 triệu được xem xét theo từng lần chi trả, không phải mặc nhiên cộng theo tháng.
Ví dụ, một cộng tác viên được thanh toán 7 triệu đồng trong một lần thì thuộc ngưỡng phải xem xét khấu trừ 10%. Trong khi đó, nếu mức chi trả của một lần dưới 5 triệu đồng thì doanh nghiệp không thuộc trường hợp bắt buộc khấu trừ theo quy định này; tuy nhiên đơn vị trả thu nhập được khấu trừ 10% nếu cá nhân có yêu cầu.
Kế toán vì vậy cần kiểm tra đồng thời hợp đồng, thời điểm thanh toán, đối tượng nhận tiền và bản chất khoản chi. Không nên chỉ nhìn tổng thu nhập một tháng rồi kết luận có hay không khấu trừ 10%.

Những khoản thu nhập thường gặp có thể bị khấu trừ 10%
Trong thực tế doanh nghiệp, nhóm thu nhập dễ phát sinh cơ chế khấu trừ này không chỉ là “lương thử việc”. Thu nhập từ tiền lương, tiền công theo quy định còn có thể bao gồm tiền công, tiền thù lao và những lợi ích mà cá nhân nhận được từ tổ chức, cá nhân dưới nhiều hình thức.
Một số tình huống kế toán thường gặp gồm:
- Tiền công, tiền lương của người làm việc ngắn hạn;
- tiền trả cộng tác viên, cá nhân thực hiện công việc theo thời gian ngắn;
- Tiền thù lao giảng dạy, biểu diễn, tham gia dự án;
- Các khoản thù lao thuộc nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công;
- Và tiền lương hoặc thu nhập khác được doanh nghiệp thanh toán sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng.
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải xác định đúng bản chất khoản thu nhập. Không phải mọi khoản thanh toán cho một cá nhân đều tự động được coi là tiền lương, tiền công để áp dụng khấu trừ 10%.
Người ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên có bị khấu trừ cố định 10% không?
Không. Đây là một trong những nhầm lẫn phổ biến nhất khi tìm hiểu “khấu trừ thuế 10% trên thu nhập nào”.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
Biểu thuế từ kỳ tính thuế năm 2026 gồm 5 bậc với các mức 5%, 10%, 20%, 30% và 35%. Vì vậy, việc một người lao động có một phần thu nhập tính thuế nằm ở bậc thuế suất 10% hoàn toàn khác với cơ chế khấu trừ cố định 10% trên khoản chi trả dành cho cá nhân không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng dưới 03 tháng.
Có thể hiểu đơn giản:
| Trường hợp | Cách khấu trừ |
| Không ký HĐLĐ hoặc HĐLĐ dưới 3 tháng, chi từ 5 triệu đồng/lần | Thông thường khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả |
| HĐLĐ từ 3 tháng trở lên | Khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần |
| Chi dưới 5 triệu đồng/lần cho nhóm không ký HĐLĐ/HĐLĐ dưới 3 tháng | Không thuộc trường hợp bắt buộc khấu trừ 10%; có thể khấu trừ nếu cá nhân yêu cầu |
Khấu trừ 10% tính trên tổng thu nhập hay thu nhập sau giảm trừ gia cảnh?
Đối với trường hợp khấu trừ theo tỷ lệ 10% nêu trên, thuế được khấu trừ trên khoản thu nhập trước khi trả cho cá nhân, không phải lấy thu nhập rồi trừ giảm trừ gia cảnh, bảo hiểm và sau đó mới nhân 10%.
Đây cũng là điểm khác biệt với người lao động ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên. Với nhóm áp dụng biểu thuế lũy tiến, thu nhập tính thuế được xác định sau khi xem xét các khoản giảm trừ theo quy định.
Do đó, nếu cộng tác viên nhận 10 triệu đồng/lần và thuộc diện khấu trừ 10%, số khấu trừ ban đầu thông thường là 1 triệu đồng, chứ không phải lấy 10 triệu đồng trừ mức giảm trừ gia cảnh rồi mới tính 10%.
Tuy nhiên, khấu trừ tại nguồn không đồng nghĩa với số thuế cuối cùng cá nhân chắc chắn phải chịu. Khi quyết toán, số thuế đã khấu trừ sẽ được xem xét cùng thu nhập và nghĩa vụ thuế thực tế của cá nhân.
Thu nhập đã bị khấu trừ 10% có phải quyết toán lại không?
Không phải trường hợp nào cũng bắt buộc quyết toán phần thu nhập này.
Theo Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng, đã được tổ chức chi trả khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, thì thuộc trường hợp không phải quyết toán đối với phần thu nhập đó.
Nếu cá nhân lựa chọn trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế, hệ thống quản lý thuế có thể tổng hợp các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm và số thuế đã khấu trừ được tính vào số thuế đã nộp khi xác định nghĩa vụ cuối cùng.
Vì vậy, việc bị giữ lại 10% khi nhận tiền không có nghĩa người lao động hay cộng tác viên “mất luôn” khoản này. Trong trường hợp số thuế đã khấu trừ lớn hơn nghĩa vụ thực tế và đáp ứng điều kiện, cá nhân có thể xử lý theo quy định về quyết toán, hoàn hoặc bù trừ thuế.
Không phải mọi loại thu nhập chịu thuế suất 10% đều là khấu trừ tiền công 10%
Một điểm cần tách biệt khi nghiên cứu quy định thuế TNCN là “thuế suất 10%” và “khấu trừ 10% trước khi trả thu nhập” không hoàn toàn đồng nghĩa.
Ngoài tiền lương, tiền công thuộc trường hợp đã phân tích, pháp luật thuế TNCN còn quy định mức thuế suất 10% đối với một số nhóm thu nhập khác như thu nhập tính thuế từ trúng thưởng; thu nhập tính thuế từ nhận thừa kế, quà tặng. Ngoài ra, Điều 50 còn có quy định khấu trừ 10% trong một số tình huống cụ thể liên quan đến cổ phiếu thưởng, ESOP hoặc khoản phí tích lũy của một số loại bảo hiểm.
Do đó, doanh nghiệp cần tránh áp dụng một công thức “cứ trả cá nhân là giữ lại 10%”. Sai bản chất khoản thu có thể dẫn đến kê khai sai thuế, ghi nhận sai chi phí và phát sinh điều chỉnh khi quyết toán.

Kế toán doanh nghiệp cần kiểm tra gì trước khi khấu trừ 10%?
Trước mỗi khoản thanh toán cho cá nhân, kế toán nên kiểm tra tình trạng cư trú của người nhận, loại hợp đồng, thời hạn hợp đồng, bản chất tiền chi, số tiền của từng lần thanh toán, tình trạng hợp đồng tại thời điểm trả tiền và hồ sơ cam kết nếu cá nhân đề nghị tạm chưa khấu trừ.
Đặc biệt, từ năm 2026 cần cập nhật lại quy trình nội bộ vì ngưỡng 5 triệu đồng/lần đã thay thế mốc 2 triệu đồng/lần trong trường hợp này. Nếu phần mềm tiền lương, bảng tính hoặc quy chế thanh toán vẫn để mốc cũ, doanh nghiệp có thể khấu trừ không đúng và phải điều chỉnh số liệu.

HC247 hỗ trợ doanh nghiệp kiểm tra và quyết toán thuế TNCN
Việc khấu trừ thuế TNCN liên quan trực tiếp đến bảng lương, hợp đồng lao động, hợp đồng cộng tác, chứng từ thanh toán và hồ sơ quyết toán cuối năm. Chỉ cần xác định sai loại hợp đồng hoặc thời điểm chi trả, số thuế khấu trừ có thể không đúng với quy định áp dụng.

HC247 hỗ trợ doanh nghiệp rà soát hồ sơ tiền lương, tiền công, xác định trường hợp phải khấu trừ 10%, kiểm tra cam kết tạm chưa khấu trừ, lập hồ sơ kê khai và quyết toán thuế TNCN. Chúng tôi đồng thời có thể đối chiếu dữ liệu kế toán, chứng từ thanh toán và hồ sơ lao động nhằm hạn chế chênh lệch khi lập báo cáo thuế cuối kỳ.
Doanh nghiệp có thể tham khảo thêm dịch vụ quyết toán thuế để rà soát nghĩa vụ thuế cuối kỳ, dịch vụ báo cáo thuế để thực hiện kê khai định kỳ và dịch vụ kế toán thuế cho doanh nghiệp mới nếu cần xây dựng hệ thống sổ sách, chứng từ và hồ sơ thuế đồng bộ ngay từ khi bắt đầu hoạt động.
